Kỹ năng giải quyết vấn đề

(Phân tích sâu) Phương pháp kỹ năng giải quyết vấn đề bằng bản chất và tư duy quy luật

Bài phân tích này, Lương sẽ sử dụng tư duy quy luật, và bản chất của sự vật-sự việc để hiểu sâu về Phương pháp tư duy và Kỹ năng giải quyết vấn đề, giải quyết các vấn đề phức tạp một cách có hệ thống.

Đầu tiên, chúng ta sẽ đi vào bản chất của sự việc, sự việc, mà ở đó có vấn đề ( chính là vấn đề chúng ta đang gặp).

I. Lý thuyết cơ bản trong Kỹ năng giải quyết vấn đề

1. Giải quyết vấn đề Bắt đầu từ bản chất sự vật

Bản chất của một sự vật là quá trình diễn biến của mâu thuẫn bên trong chính và mâu thuẫn thứ yếu, đồng thời quá trình tiến hóa chịu sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau của các sự vật khác ở ngoại cảnh. Nói chung, chu kỳ sống của sự vật là quá trình giải quyết mâu thuẫn chính và mâu thuẫn phụ của nó.

Khi gặp vấn đề trong cuộc sống và công việc, chúng ta bắt đầu từ mâu thuẫn chính và giải quyết mâu thuẫn chính và phụ, khi sự việc phát triển sang một giai đoạn mới thì mâu thuẫn chính và phụ mới tiếp tục xuất hiện. Tất nhiên, mâu thuẫn chính và mâu thuẫn phụ mới không xuất hiện ở bên ngoài, mà phát triển từ những mâu thuẫn khác trong quá khứ. Ở giai đoạn hiện tại của chu kỳ sống của sự vật, trong phạm vi của vấn đề, chúng đã trở thành mâu thuẫn chính và mâu thuẫn thứ yếu cản trở sự tiếp tục phát triển của sự vật. Quy luật này tạo thành quá trình phát triển của sự vật và quá trình phát triển của sự vật tuân theo quy luật này.

Khi đối mặt với những sự việc phức tạp, chúng ta chỉ có thể nhận thức được một khía cạnh nào đó của sự vật hiện tại có liên quan mật thiết nhất đến bản thân, tức là một mặt nào đó của sự vật. Bắt đầu từ không gian này, hãy giải quyết vấn đề cốt lõi nhất, đó là mâu thuẫn chính. Với sự đầu tư không ngừng về sức lực và tài nguyên, khi các mặt chính và phụ của mâu thuẫn chính dần dần được giải quyết, mâu thuẫn chính mới xuất hiện, và sự phát triển của sự vật sẽ bước sang giai đoạn tiếp theo, như hình bên dưới, chiều dọc của sự vật theo một chiều hướng nhất định. Sự phát triển thực chất là một quá trình trong đó mức độ chi tiết của một vấn đề được liên tục hoàn thiện và nó cũng là một quá trình trong đó các lực lượng sản xuất tiếp tục biến đổi sự vật. Điều này cho chúng ta biết rằng chúng ta cần nhìn nhận vấn đề một cách sâu sắc đa diện hơn.

Khi sự vật phát triển theo chiều dọc, cùng với sự giải quyết liên tục của các vấn đề theo chiều dọc thì chiều ngang mới dần trở thành mâu thuẫn chính và mâu thuẫn phụ của phức hợp. các chiều, nhận thức của con người về sự vật thay đổi từ một chiều sang nhiều chiều. Quá trình này cho chúng ta biết rằng chúng ta cần nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện thay vì phiến diện.

Khi nhìn thấy quá trình phát triển dọc của sự vật theo một chiều nhất định và quá trình phát triển ngang của sự vật theo nhiều chiều, chúng ta phải nhận thấy rằng hai quá trình này đang diễn ra đồng thời, là sự kết hợp của hai quá trình và diễn biến liên tục tương ứng. Quá trình phát triển là quy luật phát triển của bản thân sự vật, cuối cùng chúng ta có thể thấy được bức tranh toàn cảnh của một sự vật qua nhiều giai đoạn phát triển từ hình bên dưới. Điều này cho chúng ta biết rằng chúng ta cần nhìn nhận vấn đề một cách hệ thống hơn là từng mảng, đồng thời nhìn vấn đề từ góc độ phát triển hơn là một cách tĩnh tại.

Những điều đã trình bày ở trên dựa vào mặt bên trong của sự vật để thấy được quá trình phát triển của nó, đồng thời chúng ta cũng cần thấy được sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau của các sự vật khác ở ngoại cảnh và sự vật hiện tại. Điều này cũng cho chúng ta biết rằng nên xem xét các vấn đề một cách tổng quát hơn là một cách cô lập.

Để xem xét vấn đề một cách tổng quan có hệ thống thay vì xem xét chúng từng ở từng mặt nhỏ có nghĩa là trong quá trình chuyển từ góc độ vi mô sang góc độ vĩ mô, trọng tâm nên được chuyển từ cục bộ sang tổng thể, để nhìn vấn đề từ góc độ toàn cục, nhìn chung vấn đề nên có sự liên kết với nhau chứ không phải đơn chiều. Để hiểu vấn đề là gì, chúng ta cần nhìn vấn đề từ góc độ tổng thể, là thấy được mối quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau giữa ngoại cảnh và mâu thuẫn chủ yếu bên trong của sự vật, không chỉ thấy được yếu tố quyết định bên trong mà còn phải xem xét một cách biện chứng ảnh hưởng của môi trường đối với bên trong và tác động của bên trong đối với bên ngoài.

Quá trình này thực sự là một quá trình chuyển đổi từ quan điểm từ trong ra ngoài. Khi nhìn nhận để có thể trình bày một vấn đề, chúng ta cần nhìn sự thay đổi của nó chứ không phải một trạng thái tĩnh nhất định , tức là khi nhìn vấn đề từ góc độ vĩ mô hay vi mô, cần nhìn vấn đề trước đây như thế nào, bây giờ ra sao, và nó như thế nào trong các chiều không gian thời gian, như vậy mới có thể nắm được thực chất và trọng tâm khi giải quyết vấn đề.

Do đó, quy trình giải quyết vấn đề thực chất là: giải quyết vấn đề từ chính đến phụ, từ điểm mấu chốt đến chi tiết của vấn đề. Trong những trường hợp bình thường, giải pháp của mọi vấn đề tuân theo quy luật này, điều này phản ánh tính phổ biến của cách giải quyết vấn đề.

2. Quy luật là gì, ứng dụng trong kỹ năng giải quyết vấn đề

Khi thảo luận về bản chất của sự vật, chúng ta đã đề cập rằng sự phát triển của sự vật tuân theo một quy luật, nhưng hiểu biết về quy luật để thực sự giải quyết vấn đề thì có ích lợi gì? Tại sao điều tiên quyết là phải hiểu luật giải quyết vấn đề? Có bất kỳ quy luật nào cho việc kinh doanh công nghệ và kinh doanh không? Trước khi trả lời những câu hỏi này, trước hết chúng ta phải xem quy luật là gì, quy luật được phân tích dưới góc độ triết học Mác như thế nào và quy luật có những đặc điểm gì.

Quy luật là sự kết nối thiết yếu, cần thiết và ổn định.

Ý nghĩa của quy luật

Quy luật đầu tiên là mối liên hệ thiết yếu giữa các sự vật và sự phát triển của chúng. Có những kết nối phổ quát giữa mọi thứ, nhưng không phải tất cả các kết nối đều là kết nối thiết yếu và tạo thành quy luật. Điều này có nghĩa là quy luật không phải là hiện tượng của sự vật mà là sự vật thuộc cấp độ bản chất của sự vật, quy luật không thể trực tiếp nắm bắt thông qua các giác quan và tri thức thường xuyên thuộc về tri thức ở cấp độ tư duy duy lý.

Thứ hai, quy luật là mối liên hệ tất yếu giữa các sự vật và quá trình phát triển của chúng. Quy luật và tất yếu là những khái niệm cùng mức độ, thể hiện xu thế tất yếu và xác định trong quá trình phát triển của sự vật. Cái gọi là tính tất yếu của quy luật là chỉ tính tất yếu của sự tồn tại của quy luật, chức năng của quy luật và hệ quả của nó. Cụ thể, sự tồn tại của một số sự vật tất yếu dẫn đến sự xuất hiện của sự vật khác; giai đoạn phát triển này của sự vật tất yếu dẫn đến sự xuất hiện của sự vật khác. Trong thực tế, tính tất yếu của quy luật không có nghĩa là quy luật chỉ có một hình thức biểu đạt, cũng không có nghĩa là quy luật chỉ có thể được hiện thực hóa bằng một cách duy nhất. Khi tìm hiểu tính tất yếu của quy luật, chúng ta cần chú ý phân biệt đúng đắn giữa tính tất yếu của quy luật và phương thức hiện thực hóa của quy luật.

Cuối cùng, một quy luật là sự kết nối ổn định giữa các sự vật và sự phát triển của chúng.

Cái gọi là kết nối ổn định có nghĩa là miễn là đáp ứng các điều kiện nhất định, quy luật sẽ hoạt động lặp đi lặp lại và được thực hiện trên toàn thế giới. Tính tất yếu của quy luật thể hiện ở tính lặp lại và tính phổ biến của quy luật.. Vì vậy, quy luật lặp lại thể hiện ở sự vật không lặp lại, còn quy luật lặp lại chỉ là nội dung của tính tất yếu lặp lại đối với sự vật cùng loại. Việc phủ nhận tính lặp lại của các quy luật với tính không lặp lại của sự vật thực sự gây nhầm lẫn giữa sự khác biệt giữa tính lặp lại của các quy luật và tính lặp lại của sự vật.

Bản chất của quy luật không phải là sự quy nạp toàn bộ, mà là sự nắm bắt bản chất của sự vật. Trong cái riêng có cái chung, trong cái hữu hạn có cái vô hạn. Tính quy luật được chứng minh ở một sự vật, hoạt động nào đó, tức là tính lặp lại của quy luật được chứng minh ở vô số sự vật tương tự.

Tất cả các quy luật đều mang tính khách quan, không tồn tại và hoạt động nếu không có ý định và mong muốn của con người, cũng như không thể được tạo ra cũng như không bị phá hủy. Luật pháp không thể được tạo ra cũng như không bị phá hủy, và điều đó không có nghĩa là tất cả các bộ luật đã có trong lịch sử luôn hoạt động.

Bất kỳ quy luật nào cũng hoạt động trong những điều kiện nhất định (câu này cực kỳ quan trọng và là cơ sở cho việc thảo luận về quá trình chuyển đổi giữa luật chung và luật đặc biệt ở phần sau của bài viết này). Quy luật không thể được tạo ra cũng như không bị hủy hoại, cũng không có nghĩa là con người bất lực trước quy luật. Con người có thể thay đổi hình thức của quy luật bằng cách thay đổi và tạo điều kiện cụ thể cho luật quy hoạt động.

Các loại quy luật

Theo các lĩnh vực tồn tại khác nhau của quy luật, các quy luật có thể được chia thành quy luật tự nhiên, quy luật lịch sử và quy luật tư duy.

Theo các phạm vi khác nhau của quy luật có thể được chia thành quy luật chung và quy luật đặc biệt. Cái gọi là quy luật chung là quy luật tác động lên mọi sự vật trong một lĩnh vực nhất định và cả quá trình phát triển. Quy luật đặc biệt là quy luật tác động vào một số việc trong lĩnh vực và vào những giai đoạn nhất định của quá trình phát triển.

Sở dĩ có sự khác biệt về phạm vi hoạt động giữa quy luật chung và quy luật đặc biệt là do các điều kiện cần thiết để quy luật chung và quy luật đặc biệt hoạt động là khác nhau. Nói một cách tổng quát, trong một hệ thống có một chất lượng nhất định, sở dĩ quy luật chung có thể tác động lên tất cả các sự vật trong hệ thống và toàn bộ quá trình phát triển của nó là do những điều kiện cần thiết để quy luật chung hoạt động là tương đối chung, tương đối ít. Còn các điều kiện cần để quy luật đặc biệt hoạt động cụ thể hơn các điều kiện cần để luật chung hoạt động.

Theo quan điểm của các điều kiện để quy luật có hiệu lực thì mức độ phổ biến của quy luật tỷ lệ nghịch với số lượng các điều kiện cần thiết để quy luật chung hoạt động. Tính phổ biến của tác dụng của quy luật càng cao thì quy luật đó càng cần ít điều kiện để hoạt động; tính phổ biến của tác dụng của quy luật càng thấp thì quy luật càng cần nhiều điều kiện để hoạt động.

Quy luật thống nhất của các mặt đối lập là bản chất và cốt lõi của phép biện chứng

Hệ thống các quy luật của phép biện chứng duy vật được quy định bởi ba quy luật cơ bản: quy luật thống nhất của các mặt đối lập, quy luật biến đổi về lượng và biến đổi về chất, quy luật phủ định của phủ định, đồng thời được cấu thành từ hàng loạt các phạm trù như nội dung và hình thức, thực chất và hiện tượng, nguyên nhân và kết quả, tất yếu và may rủi, hiện thực và khả năng. Trong đó, quy luật về sự thống nhất của các mặt đối lập tạo thành bản chất và cốt lõi của phép biện chứng.

Tại sao phải nghiên cứu về quy luật

Mục đích của việc nghiên cứu quy luật là nhằm giải quyết một cách khoa học, thực tế, đúng đắn những vấn đề gặp phải trong sản xuất và đời sống hàng ngày, tránh những thiệt hại do không tuân theo quy luật khách quan. Vậy nên có thể nói nếu chúng ta muốn hiểu về phương pháp giải quyết vấn đề và hiểu kỹ năng giải quyết vấn đề là gì, chúng ta nên nghiên cứu kỹ về quy luật  tồn tại trong cuộc sống.

Trong công việc hàng ngày, chúng ta thường gặp những tình huống tưởng như rất phức tạp, nếu không phân tích rõ vấn đề, không tìm kiếm quy luật ẩn sau hiện tượng của vấn đề, sử dụng một số kinh nghiệm trong quá khứ hoặc kiến ​​thức sách vở trong quá trình giải quyết vấn đề, khi đó chủ nghĩa kinh nghiệm có khả năng xuất hiện, cũng như chủ nghĩa giáo điều trong đó lý thuyết đi chệch hướng với thực tiễn. Dù là kinh nghiệm hay kiến ​​thức thì cũng cần dựa trên thực tế và không vi phạm quy luật khách quan của sự phát triển của sự vật. Vì vậy, nghiên cứu quy luật giúp chúng ta giải quyết các vấn đề một cách đúng đắn hơn. Nói tóm lại, mọi người có thể tránh được nguy cơ thất bại “bằng cách làm mọi việc theo các quy luật.”

Mục đích của việc nghiên cứu quy luật là tìm ra quy luật mà vấn đề phù hợp, từ đó tổng hợp những điều kiện cần thiết để quy luật hoạt động, tạo điều kiện thông qua một phương tiện năng suất nhất định, sử dụng xu hướng phát triển của quy luật để hướng sự phát triển của mọi thứ để đạt được mục tiêu như mong đợi.

Mục đích của việc nghiên cứu quy luật là sử dụng mối quan hệ biện chứng giữa quy luật chung và quy luật đặc biệt để nắm vững khả năng phá vỡ quy luật, làm cho những điều tưởng như không thể và không phù hợp với quy luật xảy ra, để thu lợi từ chúng.

Những điều “tưởng như không thể xảy ra và không phù hợp với quy luật” có thể đang đẩy nhanh sự phát triển của một giai đoạn nhất định của sự vật hoặc có thể trực tiếp bỏ qua một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật mà chuyển thẳng sang giai đoạn tiếp theo, hoặc có thể kéo dài sự phát triển của một cái gì đó trong một giai đoạn nhất định. Tóm lại, ảnh hưởng của cấu trúc đối với sự phát triển của sự vật có lợi hơn là chỉ sử dụng quy luật hoặc tuân theo quy luật, và tất nhiên tác động đó sâu sắc hơn.

Ví dụ, trong quá trình hoạt động kinh doanh, chúng ta có thể sử dụng các dịch vụ hệ thống và phần mềm trung gian hiện có để giảm đầu tư kỹ thuật trong quá trình khởi động kinh doanh nhằm đẩy nhanh quá trình khởi động kinh doanh; chúng ta có thể sử dụng cơ chế đảm bảo cơ bản hiện có và các công cụ hệ thống để giảm thiểu quá trình phát triển kinh doanh của các công nghệ liên quan và cải thiện năng suất, thời gian được nén hoặc bỏ qua trực tiếp, do đó tốc độ phát triển của doanh nghiệp nhanh hơn so với việc dồn nhân lực đơn thuần.

Vì vậy, khi quy luật đặc biệt “phát triển doanh nghiệp theo vòng đời của nó” bị phá vỡ, doanh nghiệp có thể bỏ qua một số liên kết tưởng như cần thiết và không thể bỏ qua. Tóm lại, bằng cách “phá vỡ các quy tắc” để tạo ra những điều tưởng chừng như không thể.

II. Các quy luật chung và quy luật đặc biệt để giải quyết vấn đề và mối quan hệ biện chứng giữa chúng

1. Tại sao phải phân tích tính quy luật trong các bước giải quyết vấn đề?

Trong sản xuất và đời sống hàng ngày của chúng ta, về cơ bản có thể trừu tượng hóa nhiều thứ là giải quyết vấn đề, nhưng lĩnh vực mà vấn đề thuộc về khác nhau, xuất thân khác nhau, các khía cạnh liên quan cũng khác nhau, môi trường và giai đoạn phát triển của vấn đề cũng khác nhau. Nghĩa là sự vật có đặc thù riêng nhưng có quy luật chung và quy luật đặc biệt trong cách giải quyết vấn đề, điều này cũng phù hợp với tính phổ biến của các mâu thuẫn. Vì vậy, việc nghiên cứu quy luật một cách rõ ràng và phân tích mối quan hệ biện chứng giữa quy luật chung và quy luật đặc biệt của giải quyết vấn đề có ích lợi rất lớn đối với công việc và cuộc sống hàng ngày của chúng ta để làm tốt trách nhiệm được phân công. Nói cách khác, bạn muốn biết người thông minh giải quyết vấn đề như thế nào, hãy tìm hiểu về quy luật trong cách giải quyết vấn đề. Hãy xem bài viết này như một phương pháp dạy học giải quyết vấn đề cho bản thân bạn.

2. Tại sao phải phân tích mối quan hệ biện chứng giữa các quy luật chung và các quy luật đặc biệt

Từ những phân tích trên ta có thể thấy rằng trạng thái cao nhất của việc nghiên cứu quy luật là phá vỡ các quy luật, tuy nhiên điều này đòi hỏi phải hiểu rõ mối quan hệ biện chứng giữa luật chung và luật đặc biệt.

Nếu chúng ta chỉ bàn đến quy luật chung này một cách đơn giản và trừu tượng thì ý nghĩa định hướng cho việc giải quyết các vấn đề trong thực tế sản xuất và đời sống của chúng ta là quá yếu, và nếu không bàn đến quy luật chung cơ bản nhất của việc giải quyết vấn đề, thì khi bàn đến các tình huống cụ thể hơn, quy luật đặc biệt ra đời như thế nào và quy luật đặc biệt bị phá vỡ như thế nào vẫn chưa rõ ràng. Vì vậy, mối quan hệ biện chứng giữa hai mặt là cơ sở lý luận để chúng ta sử dụng có hiệu quả nhất quy luật.

“Phá vỡ các quy luật” có vẻ mâu thuẫn với “làm những việc phù hợp với quy luật khách quan”, nhưng “phá vỡ quy luật” về bản chất là thay đổi điều kiện để sự vật phù hợp với quy luật, để sự vật phù hợp với quy luật mới; trong khi “làm sự vật phải tuân theo các quy luật khách quan “. Có ý kiến ​​cho rằng, bất kể điều kiện của môi trường như thế nào mà sự vật thuộc về thì cũng tuân theo một quy luật nhất định. Vì vậy, về bản chất, hai điều đó không mâu thuẫn với nhau và mối quan hệ giữa “phá vỡ quy luật” và “làm những điều đúng quy luật” cần được hiểu một cách biện chứng.

3. Mối quan hệ biện chứng giữa quy luật chung và quy luật đặc biệt

Mối quan hệ biện chứng giữa các quy luật chung và các quy luật đặc biệt như sau:

Trong một lĩnh vực nào đó, quy luật chung có tác dụng đối với mọi sự vật, kể cả những điều thuộc lĩnh vực đó tuân theo một quy luật đặc biệt.

Trong một lĩnh vực nào đó, sự vật do luật đặc biệt kiểm soát dường như cũng bị quy luật đặc biệt kiểm soát, nhưng không có nghĩa là không tồn tại vai trò của quy luật chung.

Trong một lĩnh vực nhất định, quy luật đặc biệt và quy luật chung được xếp chồng lên nhau và có vai trò với nhau. Trong điều kiện của quy luật đặc biệt, sự vật phát triển theo sự ràng buộc của luật quy đặc biệt. Khi điều kiện thoả mãn quy luật đặc biệt mất đi thì sự phát triển của tổng thể được điều chỉnh bởi quy luật chung.

Trong một lĩnh vực nào đó, “điều kiện xây dựng phù hợp với quy luật đặc biệt” là yếu tố then chốt quyết định mọi việc có bị điều khiển bởi quy luật đặc biệt hay quy luật chung hay không, và năng suất là yếu tố quyết định yếu tố then chốt này.

Quy luật đặc biệt có phạm vi ảnh hưởng nhỏ, tính tổng quát thấp và tính cụ thể cao; đồng thời, luật đặc biệt yêu cầu năng suất cao hơn, trong khi quy luật chung yêu cầu năng suất thấp hơn. Đồng thời, chúng ta cần biết rằng việc áp dụng năng suất sẽ mang lại chi phí, do đó việc chuyển đổi giữa quy luật chung và quy luật đặc biệt cũng sẽ liên quan đến các yếu tố chi phí.

Mọi vật có thể chuyển hóa thành nhau nếu chúng chịu tác động của các quy luật đặc biệt hoặc quy luật chung, và mấu chốt để làm cho sự chuyển hóa này xảy ra là mức năng suất tác động nhiều thứ. Khi năng suất thấp, mọi thứ sẽ khó chuyển đổi giữa các quy luật chung hoặc quy luật đặc biệt, và mọi thứ có xu hướng tuân theo các quy luật sản sinh ra chúng trong môi trường và điều kiện mà chúng đang tồn tại, nhưng không thay đổi các quy luật mà chúng tuân theo. Khi năng suất tăng, khó khăn trong việc chuyển đổi mọi thứ giữa các quy luật chung hoặc các quy luật đặc biệt trở nên thấp và các quy luật mà mọi thứ tuân theo có thể được điều chỉnh với sự trợ giúp của năng suất để cho phép con người tác động gián tiếp đến quy luật phát triển của sự vật.

Do đó, khi muốn áp dụng quy luật hoặc thậm chí phá vỡ quy luật, chúng ta có thể tiếp tục rút ra các kết luận sau từ phân tích lý thuyết trên:

1. Khi trình độ năng suất của chúng ta tương đối thấp thì việc giải quyết vấn đề phải phù hợp với quy luật phát triển của sự vật;

2. Khi mức năng suất tương đối cao, chúng ta có thể làm cho mọi vật tuân theo quy luật đặc biệt bằng cách điều chỉnh các điều kiện, hoặc làm cho chúng không còn tuân theo quy luật đặc biệt nữa và quay trở lại sự kiểm soát của quy luật chung;

3. Nếu chúng ta muốn phá vỡ quy luật và biến những điều tưởng chừng như không thể xảy ra, chúng ta không chỉ nên đầu tư nguồn lực vào bản thân sự việc mà còn vào việc cải thiện năng suất liên quan đến nó, và đầu tư giữa hai tỷ lệ cần phải điều chỉnh theo tình hình thực tế.

4. Các quy luật chung và đặc biệt về tư duy giải quyết vấn đề

Sau khi bàn về mối quan hệ biện chứng giữa các quy luật chung và quy luật đặc biệt, cuối cùng chúng ta có thể thảo luận về quy luật chung và quy luật đặc biệt để giải quyết vấn đề, đồng thời tự đúc rút ra kỹ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định.

Chúng ta đã tìm hiểu về việc mở rộng từ bản chất của sự vật sang quy luật giải quyết vấn đề, đó là: quá trình giải quyết vấn đề phù hợp với quá trình phát triển của bản chất sự vật, “từ chính đến phụ, từ chính đến chi tiết”, và nó lặp đi lặp lại cho đến khi mọi thứ biến mất. Theo cách phân chia các loại quy luật trong các nguyên lý của triết học Mác thì quy luật này nên thuộc quy luật chung chứ không phải quy luật đặc biệt, vì hầu hết mọi người đều có thể nắm được những điểm mấu chốt trong quá trình giải quyết vấn đề và giải quyết chúng, ngoại trừ rất trường hợp cá biệt, kể cả khi người này không hiểu triết học Mác và không quen với lý thuyết mâu thuẫn, thì định luật này không đòi hỏi nhiều điều kiện và có phạm vi áp dụng rất rộng nên nó là quy luật chung.

Quy luật đặc biệt của việc giải quyết vấn đề có liên quan đến tính đặc thù của vấn đề, tức là nó liên quan đến một dạng vấn đề cụ thể.

5. Quy luật và các chiến lược giải quyết vấn đề của nghiệp vụ, kỹ thuật và tổ chức

Đối với bất kỳ điều gì được phân định trên thế giới, bạn có thể tìm thấy quy luật trong phạm vi, quy luật trong phạm vi nhỏ không nhất thiết phải áp dụng cho phạm vi lớn và ngược lại; quy luật trong phạm vi lớn không nhất thiết áp dụng cho phạm vi nhỏ.

Có vô số loại sự vật và vô số cách phân định phạm vi, vì vậy có vô số luật. Đối với những người khác nhau, một số thứ là không quan trọng, và không có giá trị gì trong việc khám phá quy luật của nó, trong khi đối với những người khác thì ngược lại. Chúng ta cần nhìn nhận hành vi khám phá quy luật của sự vật một cách khách quan và biện chứng, đó là một quá trình từ biết sự thật đến lý lẽ.

Đối với các nhà phát triển doanh nghiệp, hai thứ quan trọng nhất là nghiệp vụ và kỹ thuật, tuy nhiên cần thêm một khía cạnh là tổ chức, vì mọi thứ trong doanh nghiệp đều có tổ chức tương ứng hỗ trợ, hoặc đội ngũ nào cũng có vấn đề riêng để giải quyết. Nếu chúng ta chỉ đơn giản gạt tổ chức sang một bên để nói về quy luật giải quyết các vấn đề kỹ thuật hoặc nghiệp vụ, chúng ta sẽ tự nhiên thiếu một khía cạnh rất quan trọng.

Theo dõi
Thông báo của
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x